Yếu tố then chốt để hưởng ưu đãi thuế quan TPP

(24/05/2016)

TPP được đánh giá là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới tương đối toàn diện (thể hiện ở số lượng và nội dung các chương và điều khoản mà hiệp định này điều chỉnh). TPP cũng được đánh giá là hiệp định lạ nhất (xuyên khu vực Thái Bình Dương, gắn kết các quốc gia có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế; khác biệt về thể chế chính trị, không tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ, không cận kề về vị trí địa lý) nhưng sẽ mang lại lợi ích lớn nhất cho thành viên tham gia hiệp định, thể hiện ở việc nắn dòng chảy FDI hướng về các quốc gia này, điều chỉnh chuỗi cung ứng giá trị khu vực trong phạm vi FTA này và hạn chế không cho các quốc gia ngoài TPP được hưởng lợi thông qua việc thiết kế bộ quy tắc xuất xứ theo đó bắt buộc một số nhóm hàng trọng điểm phải sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu có xuất xứ trong khối, qua đó giúp nâng cao hàm lượng chế biến có xuất xứ TPP trong thành phẩm xuất khẩu, nâng cao giá trị gia tăng ở lại với quốc gia sản xuất, xuất khẩu hàng hóa trong TPP.

Việc tuân thủ quy tắc xuất xứ TPP là yếu tố then chốt quyết định việc được hưởng ưu đãi thuế quan TPP. Nếu các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam không đáp ứng bộ quy tắc xuất xứ này, việc hưởng thuế quan ưu đãi sẽ vô nghĩa. Yêu cầu về xuất xứ đối với linh kiện điện tử hầu hết ngang bằng với nhiều FTA khác.

·         Đối với ngành dệt may:

Trong hầu hết các FTA Việt Nam đã thực hiện (ngoại trừ AJCEP và VJEPA), nguyên liệu cho ngành có thể nhập khẩu từ bất cứ đâu, chỉ cần chứng minh công đoạn cắt may khâu thành sản phẩm diễn ra tại Việt Nam, sản phẩm đó được coi có xuất xứ và được hưởng thuế quan ưu đãi khi xuất khẩu sang đối tác FTA của Việt Nam (ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Chile).

Với AANZFTA và AIFTA, quy tắc xuất xứ khó hơn một chút, khi yêu cầu thành phẩm, ngoài công đoạn gia công cuối cùng diễn ra tại Việt Nam, phải chứng minh có ít nhất 35- 40% trị giá của thành phẩm được tạo ra trong phạm vi FTA. Điều đó cũng có nghĩa, một số lượng nhất định nguyên phụ liệu, đặc biệt là vải có thể nhập khẩu từ ngoài khối, chỉ cần chứng minh có 35 – 40% hàm lượng thành phẩm được tao ra trong khối, hàng hóa đã được hưởng thuế quan ưu đãi FTA.

Với AJCEP và VJEPA, không chỉ cắt may khâu tạo ra thành phẩm mà nguyên liệu vải bắt buộc phải có xuất xứ FTA, nói cách khác, Việt Nam không thể nhập khẩu vải từ Đài Loan hay Trung Quốc, Hàn Quốc để rồi sau đó xuất khẩu hàng may mặc sang Nhật Bản và hưởng ưu đãi thuế quan được.

TPP thể hiện mức độ khó cao nhất khi áp dụng quy tắc “từ sợi trở đi” có nghĩa là từ sợi tạo ra vải thô, vải thành phẩm và sau đó là hàng may mặc hoàn thiện, tất cả các công đoạn này phải được sản xuất trong phạm vi khu vực TPP.

·         Đối với ngành nhựa:

Đây là ngành được kỳ vọng có sự tăng trưởng ấn tượng khi xuất khẩu tới Hoa Kỳ sau khi TPP có hiệu lực: quy tắc xuất xứ với một số nhóm hàng nhựa yêu cầu ít nhất 50% hàm lượng polymer sử dụng để tạo ra thành phẩm phải có xuất xứ TPP, trong khi hiện nay hầu hết nguyên liệu này không thể sản xuất trong nước và phải nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, khu vực Trung Đông (những quốc gia không phải thành viên TPP).

Tuy nhiên, không phải tất cả các mặt hàng xuất khẩu đều phải chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của quy tắc xuất xứ TPP.

Một số nhóm hàng khi so sánh với các FTA khác mà Việt Nam đã và đang thực hiện, quy tắc xuất xứ là ngang bằng, thậm chí một số mã hàng có phần còn lỏng hơn, cụ thể như sau:

-       Mặt hàng cao su/ sản phẩm cao su:

Quy tắc xuất xứ trong TPP là ngang bằng với hầu hết các FTA mà Việt Nam tham gia (cho phép nguyên liệu có thể nhập khẩu từ ngoài khối) và lỏng hơn AANZFTA (yêu cầu xuất xứ thuần túy).

-       Hạt điều nằm trong nhóm hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam:

TPP cho phép nhập khẩu nguyên liệu điều thô từ bất kỳ đâu, chỉ cần chứng minh công đoạn gia công chế biến cuối cùng (bóc tách vỏ hạt, tẩm ướp thêm gia vị, đóng hộp…) diễn ra tại Việt Nam là đã có thể xuất khẩu sang Hoa Kỳ để hưởng ưu đãi thuế quan TPP. Tiêu chí xuất xứ này ngang bằng với VKFTA nhưng lỏng hơn so với hầu hết các FTA khác mà Việt Nam đã thực hiện khi yêu cầu điều phải có xuất xứ toàn bộ hoặc một phần tại Việt Nam.

-       Xi măng, bột đá vôi và một số sản phẩm công nghiệp chế biến từ khoáng sản phục vụ xây dựng:

Quy tắc xuất xứ TPP lỏng hơn hầu hết các FTA mà Việt Nam là thành viên, khi cho phép chuyển đổi mã HS ở cấp 4 số, thậm chí là 6 số, tức là nguyên liệu có thể nhập khẩu từ bất kỳ đâu, trong hay ngoài TPP đều được chấp nhận.

-       Đối với nhóm hàng máy móc, điện thoại, linh kiện điện tử:

Quy tắc xuất xứ TPP hầu hết là ngang bằng hoặc có phần lỏng hơn (với một số mã HS nhất định) các FTA mà Việt Nam đang thực hiện, qua đó cho thấy tiềm năng và dung lượng xuất khẩu các nhóm hàng này sang các thị trường thành viên TPP, trong đó có Hoa Kỳ là rất lớn.

TPP thực sự là cơ hội, nếu doanh nghiệp nắm vững mà HS, đáp ứng quy tắc xuất xứ và lựa chọn quy tắc xuất xứ phù hợp; ngược lại TPP sẽ là thách thức, nếu doanh nghiệp không nắm vững mã HS, không có hiểu biết đầy đủ về tiêu chí xuất xứ và chuỗi cung ứng sản xuất trong khu vực, không chủ động được nguồn cung nguyên liệu, thì thuế nhập khẩu vào Hoa Kỳ và các nước thành viên khác của TPP áp dụng cho hàng Việt Nam sẽ vẫn là MFN chứ không phải thuế quan ưu đãi TPP. Khi đó việc tận dụng ưu đãi từ Hiệp định này sẽ không còn nhiều ý nghĩa như kỳ vọng của Chính phủ và chính cộng đồng doanh nghiệp, đối tượng được thụ hưởng nhiều nhất từ TPP.

 

(Theo ITPC)