Hội nghị Thủ tướng đối thoại với doanh nghiệp năm 2017

(19/05/2017)

Hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp năm 2017 diễn ra ngày 17/5 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội), quy tụ của 2.000 đại biểu, gấp 4 lần so với năm ngoái. Trong số này, có 1.500 đại diện cho khu vực doanh nghiệp tư nhân, cùng các đại biểu từ khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), doanh nghiệp Nhà nước, các định chế tài chính lớn và đại diện các cơ quan Nhà nước. Tham dự Hội nghị qua hình thức trực tuyến còn có lãnh đạo 63 tỉnh, thành phố cùng các đại biểu doanh nghiệp, với số lượng 50-100 người mỗi điểm cầu. 

Qua một năm thực hiện, tinh thần thúc đẩy đổi mới đã đem lại niềm tin cho người dân, doanh nghiệp. Sự hưởng ứng thể hiện rõ qua số lượng doanh nghiệp thành lập mới lên tới 110.000 trong năm 2016. Có thể nói chưa bao giờ tinh thần khởi nghiệp lại được đề cao, thực hiện sâu rộng như năm qua. Chúng ta có chương trình khởi nghiệp, khuyến khích thành lập doanh nghiệp mới nên tất yếu sẽ có doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ. Ngay lập tức không thể đòi hỏi họ đóng góp lớn cho nền kinh tế. Sứ mệnh lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ là tạo việc làm. Cho nên, đánh giá về sự phát triển của các doanh nghiệp mới không chỉ nên nhìn vào đóng góp GDP, nguồn vốn đầu tư, mà nên nhìn vào sự đóng góp của số doanh nghiệp này khi tạo ra lượng việc làm lớn cho xã hội. Thêm vào đó, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ thì không nhất thiết doanh nghiệp phải có vốn lớn mới có đóng góp cho nền kinh tế. Ngược lại, doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ có những nỗ lực đổi mới sáng tạo có thể có đóng góp lớn, tạo bứt phá cho nền kinh tế.

 

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp; giải quyết việc chồng chéo, trùng lắp trong hoạt động thanh tra, kiểm toán; tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc giao Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan khẩn trương nghiên cứu, xây dựng dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp để kịp thời giải quyết các phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp về việc vẫn còn có quá nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra trong cùng một năm; tạo điều kiện hỗ trợ, phát triển và bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp.

 

Chính phủ đã ban hành 50 nghị định về điều kiện đầu tư kinh doanh theo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp, trong đó tập trung cắt giảm nhiều thủ tục, giấy phép, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Một số lĩnh vực được cải thiện rõ rệt về thủ tục hành chính. hủ tục về thuế và hải quan đã được đẩy mạnh thông qua việc áp dụng  hiện đại hoá, giảm thủ tục, thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Hệ thống khai thuế qua mạng, nộp thuế điện tử đã được triển khai tại 63 Cục thuế và 100% chi cục thuế trực thuộc. Doanh nghiệp kê khai điện tử đạt tỷ lệ 99,64 % và được hỗ trợ nộp thuế xuất nhập khẩu bằng phương thức điện tử. Số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực thuế năm 2016 đã giảm 85 thủ tục so với 2015...Cơ chế một cửa quốc gia của Việt Nam đã kết nối kỹ thuật thành công với 04 nước ASEAN (Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Singapore) để trao đổi Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D cho hàng hóa xuất khẩu có xuất xứ ASEAN. Cơ chế một cửa quốc gia đã kết nối chính thức với 11/14 Bộ. Ngoài thủ tục thông quan hàng hóa (Bộ Tài chính), 37 thủ tục hành chính của 09 Bộ còn lại đã được thực hiện thông qua Cơ chế một cửa quốc gia. Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử đã được đưa vào vận hành, đáp ứng yêu cầu dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, góp phần giảm thời gian, chi phí thành lập doanh nghiệp và xây dựng một hệ thống đăng ký kinh doanh minh bạch, hạn chế tối đa tiêu cực có thể phát sinh từ sự can thiệp của con người. Trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp, hiện có 95/115 quy trình đạt tiêu chuẩn dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Tỷ lệ hồ sơ được chấp thuận ngay lần đầu tiên đạt gần 86%, tỷ lệ hồ sơ trả kết quả đúng hẹn đạt gần 90%.

 

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vào cuối năm 2016 đầu năm 2017 vừa được công bố cho thấy, 75% doanh nghiệp đánh giá tác động của 5 nhóm nhiệm vụ giải pháp đưa ra sau Hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp một năm trước là tích cực, tuy nhiên vẫn còn 25% số doanh nghiệp đánh giá chưa có chuyển biến. Mặc dù còn thiếu sót song tác động của việc thực hiện Nghị quyết 35 là không thể phủ nhận. Cuộc khảo sát mới thực hiện của Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (Jetro) đã đưa ra kết luận rằng Việt Nam tiếp tục là địa điểm đầu tư quan trọng của doanh nghiệp Nhật Bản, trên 66% doanh nghiệp được khảo sát cho biết có xu hướng "mở rộng hoạt động kinh doanh" tại Việt Nam. Năm 2016 cũng ghi dấu ấn với số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt kỷ lục hơn 110.000, cao nhất về số lượng từ trước tới nay. Số vốn cam kết đưa vào thị trường tăng 48% so với cùng kỳ, cùng với số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 24%. Tại cuộc gặp gỡ Thủ tướng với doanh nghiệp lần thứ 2 với khí thế mới, cộng đồng doanh nghiệp vẫn kỳ vọng những nút thắt về thể chế, môi trường kinh doanh... sẽ được lãnh đạo Chính phủ cởi trói hơn để chỉ đạo sẽ "không là lời nói suông mà là hành động thực tế".

 

Chính phủ đề nghị, một năm sau khi triển khai Nghị quyết 35 về phát triển doanh nghiệp, hội nghị lần thứ 2 để đưa ra chương trình hành động. Vì thế Chính phủ cần những đóng góp thẳng thắn của cộng đồng doanh nghiệp. Thủ tướng tỏ ý vui mừng tại hội trường hôm nay có sự tham dự trực tiếp của hơn 2000 đại biểu là doanh nghiệp, Bộ, ngành, địa phương cùng hơn 10.000 đại biểu tại 63 đầu cầu trực tuyến của cả nước - đông đảo nhất từ trước đến nay. Sự kiện cũng diễn ra sau Hội nghị Trung ương 5 khoá XII, nơi Trung ương ban hành những Nghị quyết quan trọng về kinh tế tư nhân, coi đây là lực lượng quan trọng để phát triển Kinh tế thị trường. Với doanh nhân thời gian là tiền bạc, Thủ tướng cảm ơn các doanh nhân đã dành thời gian đến nghe, góp ý cùng Chính phủ với tinh thần "Đồng hành cùng doanh nghiệp".

 

Riêng năm 2016 đã có hơn 110.000 doanh nghiệp thành lập, tăng hơn 16% so với năm 2015, đạt mức kỷ lục từ trước đến nay . Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2016 Việt Nam đã tăng 9 bậc (từ vị trí 91 lên 82) về chỉ số môi trường kinh doanh. Các tổ chức như Eurocham, Amcham, Jetro đều đưa ra góc nhìn tích cực về môi trường kinh doanh của Việt Nam. Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện môi trường kinh doanh nhưng phản ánh từ cộng đồng doanh nghiệp cho thấy vẫn tồn tại khoảng cách giữa chính sách và thực thi. Những vấn đề như chưa giải quyết triệt để sự không thống nhất giữa các luật dẫn đến vướng mắc trong thực thi, khó khăn trong tiếp cận vốn và các nguồn lực xã hội hay chi phí kinh doanh cơ bản còn ở mức cao vẫn còn là những điểm nghẽn cần tháo gỡ.

 

Những tồn tại như chi phí vận chuyển một container từ cảng Hải Phòng về Hà Nội đắt gấp 3 lần so với từ Hàn Quốc, Trung Quốc về Việt Nam; chi phí tiếp cận điện năng cao gấp 49 lần Philippines hay chi phí nộp thuế cao nhất so với ASEAN 4 (39% lợi nhuận làm ra, cao hơn 2 lần Singapore) là những ví dụ điển hình cho vấn đề này. Theo người đứng đầu Bộ Kế hoạch đầu tư, để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của năm 2017 và những năm còn lại của nhiệm kỳ, tinh thần và nội dung của Nghị quyết 35 cần phải được quán triệt và triển khai mạnh mẽ, đồng bộ hơn nữa.

 

Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc đánh giá Nghị quyết 35 của Chính phủ đã đưa ra 3 thông điệp căn bản: Doanh nghiệp là động lực của sự phát triển; Chính phủ có trách nhiệm kiến tạo, phục vụ doanh nhân và Khởi nghiệp là sự nghiệp của nhân dân. Cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao Nghị quyết 35 với các mục tiêu, nhiệm vụ, phân công trách nhiệm cụ thể. Trong Chính phủ không có chỗ để bàn lùi, nhiều bộ, ngành, địa phương... đã vào cuộc quyết liệt và có chính sách hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp. sự thay đổi chính sách đột ngột, sự hồi tố trong kinh doanh; nhiều địa phương vẫn lạm dụng thanh tra, kiểm tra với nội dung trùng lặp; nhiều điều kiện sản xuất kinh doanh không phù hợp; tình trạng "trên bảo dưới không nghe", "trên nóng dưới lạnh" còn phổ biến, nhiều bộ ngành địa phương chỉ giải thích, không giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp... vẫn là những thách thức, rào cản cần giải quyết, gỡ bỏ trong thời gian tới. Chính phủ đã khởi động thành công "làn sóng cải cách lần thứ 2", song cộng đồng doanh nghiệp vẫn kỳ vọng những nút thắt về thể chế, môi trường kinh doanh... sẽ được cởi trói hơn.

 

Những cải cách về thể chế, xây dựng pháp luật và cơ chế chính sách về hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp là những điểm nhấn trong công tác điều hành năm vừa qua. Trong 2016, tổng số thủ tục hành chính giải quyết trực tuyến mức độ 3, 4 tại các Bộ, ngành là 112 và các địa phương là 8.215. Kể từ khi Hệ thống thông tin phản ánh kiến nghị của doanh nghiệp đi vào hoạt động (1/10/2016) đến nay, Văn phòng Chính phủ đã tiếp nhận tổng cộng 586 phản ánh, kiến nghị của các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, với tỷ lệ giải quyết đạt trên 76%. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác hỗ trợ phát triển doanh nghiệp còn những tồn tại, hạn chế. Những quy định pháp luật, cơ chế chính sách chưa thực sự tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, cũng như việc phát sinh những thủ tục hành chính mới không cần thiết, không hợp lý. Nhiều quy định còn can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, vi phạm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.  Theo người đứng đầu Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng, những hạn chế này đến từ việc chưa quán triệt đầy đủ, nhận thức đúng về chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng về xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động. Tư duy quản lý còn mang dấu ấn cơ chế xin-cho, bao cấp. Việc cải cách, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của bộ phận cán bộ, công chức nên gặp cản trở, phản đối ngay từ bên trong. Tình trạng chậm trễ, nhũng nhiễu, tiêu cực trong giải quyết thủ tục hành chính còn nhiều.

 

Thống đốc Lê Minh Hưng cho biết hiện mặt bằng lãi suất đã giảm khoảng 40% so với năm 2011, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, lạm phát, kinh tế vĩ mô. Lý giải việc lãi suất thấp ở một số quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc... ông Hưng cho hay là do những nước này môi trường vĩ mô ổn định, lạm phát thấp duy trì trong nhiều năm; doanh nghiệp có khả năng hoạch định sản xuất kinh doanh cao; vốn sản xuất kinh doanh không quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Trong khi tình hình của Việt Nam là nước đang phát triển nên nhu cầu vốn cho phát triển rất lớn, các cân đối lớn nền kinh tế ổn định nhưng lạm phát chưa ổn định... đã ảnh hưởng tới mặt bằng lãi suất cho vay với các ngân hàng. So với các nước trong khu vực ASEAN thì Việt Nam ở mức 6- 11% một năm, ngoại tệ 3-4% một năm là mức tương đối hợp lý so với bối cảnh tương quan Việt Nam và khu vực. Thời gian tới Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp  tục chỉ đạo điều hành lãi suất vĩ mô ổn định, chỉ đạo các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay, chú trọng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp... Trước áp lực nhu cầu vay vốn lớn, tới đây Ngân hàng Nhà nước sẽ linh hoạt tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các ngân hàng hiện là 50% và đầu năm 2018 sẽ là 40%. Nhưng trong bối cảnh hiện nay thì sẽ xem xét để có mức linh hoạt hơn.

 

Tổng giám đốc Ngân hàng HSBC Việt Nam cho rằng nếu doanh nghiệp trong nước chỉ dựa vào lợi thế nhân công giá rẻ thì sẽ khó trụ vững. Thay vào đó, doanh nghiệp trong nước cần đầu tư công nghệ để phát triển cạnh tranh bền vững. Hiện năng suất lao động người Việt Nam vẫn tương đối thấp, do đó cần sử dụng nhiều nguồn lực từ các nguồn khác nhau để nâng cao chất lượng giáo dục. Cải cách giáo dục sẽ là trụ đỡ, giúp nâng cao năng suất lao động người Việt Nam nhanh nhất. Dù hiện chưa rõ số phận TPP ra sao nhưng CEO HSBC Việt Nam khuyến nghị Chính phủ vẫn nên tiếp tục các cải cách theo cam kết TPP, đây là cơ sở tạo ra cơ hội lớn cho cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài.

 

Cộng đồng doanh nghiệp mặc dù đã có những sự hỗ trợ tích cực từ phía Chính phủ, nhưng còn gặp nhiều khó khăn, trong đó bức xúc nhất là gánh nặng chi phí, bao gồm cả chi phí chính thức và không chính thức. Việc cải cách thế chế đã giúp giảm chi phí chính thức của doanh nghiệp trên một số khía cạnh, đặc biệt các các chi phí tiệm cận dịch vụ công, tạo bước tiến về cải thiện môi trường kinh doanh, tuy nhiên các loại thuế phí vẫn còn là gánh nặng. Trong khi tình trạng chậm trễ, nhũng nhiễu, tiêu cực trong giải quyết thủ tục hành chính vẫn còn nhiều. Bên cạnh đó, những khoán chi phí không chính thức cũng đang là rào cản cho sự cải thiện môi trường kinh doanh, sự phát triển của doanh nghiệp. "Tình trạng của công chia ba, của nhà chia đôi vẫn còn xuất hiện nhiều trong việc xử lý các thủ tục hành chính. Điều này sẽ bóp méo, làm giảm sút năng lực cạnh tranh doanh nghiệp cũng như quốc gia, khiến niềm tin của giới kinh doanh giảm sút. Để khắc phục hiện tượng này phải có sự chung tay, thực tâm từ cả hai phía là cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp. Chỉ như vậy mới tạo nên một môi trường kinh doanh bình đẳng, an toàn và bền vững. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần phải tạo thói quen ý thức tuân thủ pháp luật, đề cao văn hóa kinh doanh, với sứ mệnh phát triển sản xuất kinh doanh làm giàu chân chính là yêu nước, thực hiện nói không với tiêu cực, chủ động tăng cường năng lực quản trị, chung tay cùng với Chính phủ và các cơ quan của Chính phủ ngăn chặn, đẩy lùi tiêu cực trong kinh doanh.

 

Theo kết quả nghiên cứu Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2016, trong số 11.000 doanh nghiệp được hỏi xác nhận phải trả loại phí bôi trơn khi làm thủ tục cấp mặt bằng sản xuất kinh doanh, tiếp đón thanh tra, kiểm tra, thủ tục cấp giấy phép kinh doanh có điều kiện. "Có 9-11% doanh nghiệp tham gia điều tra năm 2014-2016 cho biết, các khoản chi phí cho riêng mục này chiếm tới hơn 10% tổng doanh thu của họ, cao hơn hẳn mức 6-8% giai đoạn 5 năm trước". Ngoài chuyện phải trả thêm tiền để được việc, doanh nghiệp Việt cũng đang phải chịu nhiều khoản chi phí khác khiến họ kiệt quệ nguồn lực kinh doanh.Đơn cử, chi phí logistics vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp ở Việt Nam. Ví dụ phí vận chuyển cho một container hàng từ cảng Hải Phòng về Hà Nội hay ở chiều ngược lại (khoảng 100 km), đắt gấp ba lần so với phí vận chuyển một container hàng từ Trung Quốc và Hàn Quốc về Việt Nam. Ngoài ra còn có những phí phát sinh liên quan đến thủ tục hành chính, giá xăng dầu tăng, phụ phí vận tải biển.

 

Năng lực quản trị doanh nghiệp, quản trị công ty của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất hạn chế. Sự yếu kém về quản trị cũng làm cho doanh nghiệp Việt Nam "chậm lớn", đông về số lượng, nhưng yếu kém về chất lượng. Việc Việt Nam mới có khoảng 700 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán và với việc áp dụng các thực tiễn tốt về quản trị công ty ở mức rất hạn chế so với ASEAN 4 đang là một thách thức lớn để các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng được niềm tin đối với các nhà đầu tư, đối tác kinh doanh của mình và phát triển thương hiệu. Nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển doanh nghiệp như đã nêu trên, theo VCCI, có thể xuất phát từ sự yếu kém trong phát triển của các thị trường: thị trường các yếu tố (đất đai, lao động, công nghệ, tài chính) và thị trường hàng hóa (hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa công nghiệp). Dù phần lớn kiến nghị của doanh nghiệp được các Bộ, ngành ghi nhận, tháo gỡ, song thực tế môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều nút thắt, là nỗi ám ảnh với doanh nghiệp. Một trong số đó là chi phí không chính thức doanh nghiệp phải trả rất lớn.

 

Chủ tịch Hội Doanh nhân Tư nhân Việt Nam cho rằng, vấn đề hiện nay là cần nhanh chóng cụ thể hóa những cơ chế, chính sách mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá XII của Đảng đã đề ra là: Chính sách đất đai; chính sách tài chính, tín dụng; chính sách lao động - tiền lương; chính sách hỗ trợ về đào tạo, khoa học và công nghệ; chính sách hỗ trợ về thông tin, xúc tiến thương mại. Phải rà soát và xoá bỏ những văn bản quy định đi ngược lại yêu cầu, nhiệm vụ khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, trước mắt là những quy định hạn chế quyền kinh doanh của DN tư nhân, những quy định làm tăng chi phí đầu vào của DN. Quản lý Nhà nước phải theo kịp sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), không vì chưa quản lý được mà hạn chế, gây khó hoặc cấm các hoạt động liên quan đến ứng dụng tri thức và công nghệ cao để tạo ra nền kinh tế phát triển nhanh, tính cạnh tranh cao thay thế các giá trị truyền thống như lao động, tài nguyên.

 

Có hơn 110.000 doanh nghiệp thành lập mới nhưng 2016 cũng chứng kiến một lượng tương đương nửa số này phá sản, giải thể. Đúng là một năm qua chúng ta chứng kiến sự bùng nổ về số lượng doanh nghiệp, còn chất lượng, sức khoẻ của họ chưa được cải thiện bao nhiêu. Điều này cần nhìn nhận ở 2 khía cạnh, khi đã thúc đẩy mạnh mẽ khởi nghiệp thì sẽ xuất hiện ngày càng nhiều doanh nghiệp siêu nhỏ trong nền kinh tế. Đồng thời, quá trình hội nhập và Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tiếp sức cho các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ kết nối và tham gia mạng giá trị toàn cầu. Các doanh nghiệp vẫn đang trong tình trạng vô cùng khó khăn. Hiệu suất sinh lợi trên tài sản của các doanh nghiệp trong nền kinh tế đã giảm từ 6,6% năm 2012 xuống còn 3,2% năm 2015.Trong các tháng đầu năm 2017, số lượng doanh nghiệp thành lập mới tuy có tăng nhưng số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động và giải thể cũng bằng một nửa số lượng doanh nghiệp thành lập mới. Nguyên nhân chính vẫn là do môi trường kinh doanh vẫn còn vô vàn khó khăn, vướng mắc cần được giải quyết, tháo gỡ. Những kết quả đã đạt được mới chỉ là bước đầu và còn quá nhỏ so với những bất cập đang còn tồn tại, đã tích tụ từ nhiều năm.

 

Chi phí kinh doanh ở Việt Nam về cơ bản ở mức cao so với các nước trong cùng khu vực như Singapore hay Malaysia. Đặc biệt là chi phí tiếp cận điện năng của Việt Nam cao gấp gần 49 lần so với Philippines. Chi phí nộp thuế cao nhất so với ASEAN 4, cao hơn 2 lần so với Singapore. Tương tự như vậy, chi phí tuân thủ chứng từ xuất khẩu cũng ở mức cao nhất, gấp gần 4 lần so với Singapore và hơn 3 lần so với Philippines... Chưa kể chi phí logistic ở mức cao, chi phí không chính thức, giảm chi phí cho doanh nghiệp đang là yêu cầu cấp thiết. Thủ tục xuất, nhập khẩu cần phải tập trung theo nguyên tắc một cửa, quản lý rủi ro theo thông lệ quốc tế, phân luồng ưu tiên, nguyên tắc công nhận lẫn nhau giữa các cơ quan, đơn vị để giảm bớt thời gian, chi phí cho doanh nghiệp, giảm thanh tra, kiểm tra chồng chéo, mọc thêm các qui định, thủ tục mới.

(Tô Cẩn: Bộ Công Thương)